Mất:3 phút, 26 giây để đọc.

Cây tầm gửi xưa nay luôn được xem là một trong những loài cây thuốc rất nhiều công dụng trong đó có giảm đau. Đây là một loại thân cây sống bám trên cây khác, nuôi sống cơ thể bằng việc lấy chất dinh dưỡng từ những loài cây khác. Tùy vào từng loại cây mà thân tầm gửi sống bám mà có những công dụng khác nhau. Bên đông y đã nghiên cứu của sử dụng tầm gửi để làm thuốc từ nhiều loại thân cây khác nhau. Ở cây tầm gửi thì bộ phận thường được sử dụng cả cây trừ phần rễ cây. Đặc biệt là thường chỉ sử dụng những cây khi nó chưa ra hoa.

Cây tầm gửi được lấy về, rửa sạch, cắt ngắn thành những khúc nhỏ sau đó mang đi phơi khô hoặc sấy khô để sử dụng. Với loại cây này sẽ thường được sử dụng để ngâm rượu. Với công dụng giúp lợi khí huyết, giảm đau khớp do những tình trạng bệnh như phong thấp hay do chấn thương. Điều trị tăng huyết áp, giup an thai, lợi sữa cũng như rối loạn thần kinh…Trong y học hiện đại thì loại cây tầm gửi này có công dụng giảm đau, chống viêm, có nhiều hợp chất chống oxy hóa cũng như bảo vệ gan.

Các loại tầm gửi theo tân cây sống bám

Tầm gửi cây chanh: Chữa ho khan, ho có đờm; Sao chế phối hợp với lá táo, sao vàng, sắc với 200ml, còn 50ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Tầm gửi cây mít dùng riêng hoặc phối hợp với cỏ sữa lá nhỏ; sắc uống, có tác dụng tăng tiết sữa.

Tầm gửi cây táo phối hợp với củ sả; củ chuối hột thái nhỏ, sao vàng sắc uống chữa kiết lỵ ra máu.

Tầm gửi cây xoan sắc uống chữa bệnh đường ruột, kiết lỵ, táo bón.

Tầm gửi cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương; chữa di tinh, liệt dương: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao 12g, đỗ trọng 12g, kỷ tử 10g, nhục quế 10g, sơn thù du 8g, phụ tử chế 6g, đương quy 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Công dụng giảm đau của tầm gửi

Tầm gửi cây gạo phối hợp với tầm gửi cây chanh, vỏ cây lai; sao vàng, hạ thổ, sắc uống chữa động kinh. Phối hợp với xương quạ đen sắc uống chữa hen suyễn.

Tầm gửi cây nhót sắc uống chữa tiêu chảy.

Tầm gửi cây hồi nấu nước uống thay trà, chữa ho

Tầm gửi cây đại bi sắc uống chữa viêm gan, sưng phổi.

Tầm gửi cây đào nấu lấy nước đặc rồi chấm vào vết thương trị bệnh ngoài da, dị ứng, mẩn ngứa.

Tầm gửi cây mận, cây roi, cây sung giã nát cùng với lá gấc; nhựa củ nâu, gạch non, tán vụn, giàn mỏng trên vải xô đắp băng vào nơi tổn thương chữa bong gân, sai khớp.

Tầm gửi cây quýt sắc uống chữa ho.

Tầm gửi cây khế giã nhỏ; trộn với nước vo gạo; hơ nóng, đắp chữa bong gân. Nếu sao vàng chữa ho gà, sốt rét; phối hợp với tầm gửi cây ruối; 20g, rau má 20g, lá bạc hà 10g, lá hẹ 10g. Sắc uống chữa ho, hen sữa ở trẻ em.

Tầm gửi cây dâu: với tên thuốc là tang ký sinh.

Tang ký sinh có vị đắng, tính bình, không độc. Có tác dụng bổ gan, thận, mạnh gân cốt, an thai. Theo tài liệu nước ngoài, tang ký sinh là thuốc kích thích sự tạo máu; điều trị thiếu máu và chứng chảy máu ở phụ nữa mang thai và sau sinh.

Dùng riêng tang ký sinh: sao vàng (12-16g) sắc uống hoặc để tươi (30g) giã nát, lọc lấy nước, uống vào lúc đói.

Tìm hiểu thêm thật nhiều thông tin thú vị khác từ Thông Tin Dinh Dưỡng RCC.

Trích nguồn từ suckhoedoisong

Phạm Hằng